Đề thi Văn vào lớp 10 Hà Nội năm 2026 được tổ chức ngày 30/05/2026, tiếp tục giữ cấu trúc quen thuộc gồm hai phần: đọc hiểu và làm văn, tổng thời gian làm bài 120 phút.
Điểm đáng chú ý là đề sử dụng ngữ liệu thơ hiện đại giàu cảm xúc, khai thác chủ đề tuổi thơ, thiên nhiên và khát vọng trải nghiệm. Phần nghị luận xã hội bám sát thực tế đời sống, đặt ra vấn đề về sự kết nối trong xã hội hiện đại, đòi hỏi thí sinh vừa có tư duy vừa có trải nghiệm cá nhân.
Dưới đây là toàn văn đề thi chính thức và gợi ý đáp án chi tiết giúp học sinh tham khảo, tự đánh giá và rút kinh nghiệm.
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
Năm học 2026–2027
Môn thi: Ngữ văn
Ngày thi: 30/05/2026
Thời gian làm bài: 120 phút
(Đề thi gồm 02 trang)
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
TRĂNG TRONG RỪNG VÀ NHỮNG ĐỨA TRẺ
(Thanh Thảo)
Những đứa trẻ chưa từng ra biển
Nào thấy trăng trên sóng biếc mênh mang
Chưa được lớn lên ở đồng bằng
Để ca múa dưới vầng trăng nguyên vẹn
Cũng chưa sống giữa phố phường bừng ánh điện
Nơi mùa trăng dễ bị lãng quên…
Những đứa trẻ ở rừng
Chỉ đón trăng rằm qua kẽ lá
Những vệt ngời nho nhỏ
Long lanh hoài trong đáy mắt ngây thơ
“Trăng tròn ơi xuống đây chơi”
Ngồi dưới gốc bằng lăng chúng ca khe khẽ
Ai hiểu hết nỗi khát thèm của bé?
“Trăng tròn ơi xuống đây chơi”
Rất dễ thương, trăng là đứa trẻ
Gương mặt dịu lành soi năm tháng gian lao
“Trăng tròn ơi xuống đây chơi”
Những vệt ngời nho nhỏ
Những vệt ngời nho nhỏ
Giữa rừng già
Trăng bé thế thôi…
(Thanh Thảo, Tác phẩm Văn học được Giải thưởng Nhà nước, NXB Hội Nhà văn, 2015)
Chú thích:
Thanh Thảo sinh năm 1946, quê ở Quảng Ngãi. Ông được Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm):
Xác định thể thơ của bài thơ trên và nêu một dấu hiệu nhận biết.
Câu 2 (0,5 điểm):
Ghi lại hai từ ngữ chỉ thiên nhiên trong khổ thơ đầu.
Câu 3 (1,0 điểm):
Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa trong hai dòng thơ:
“Rất dễ thương, trăng là đứa trẻ
Gương mặt dịu lành soi năm tháng gian lao”.
Câu 4 (1,0 điểm):
Lời gọi trăng của những đứa trẻ trong khổ thơ cuối có ý nghĩa gì?
Câu 5 (1,0 điểm):
“Những đứa trẻ ở rừng” đón “trăng rằm qua kẽ lá”, “long lanh”, chúng chưa từng được ra biển để thấy “trăng trên sóng biếc mênh mang”.
Theo em, bằng lòng với cuộc sống hiện tại hay dấn thân khám phá những chân trời mới, trải nghiệm nào đáng giá hơn?
Hãy nêu lựa chọn của em và lí giải (khoảng 5–7 dòng).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm):
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích hình ảnh những đứa trẻ trong các dòng thơ:
“Những đứa trẻ ở rừng
Chỉ đón trăng rằm qua kẽ lá
Những vệt ngời nho nhỏ
Long lanh hoài trong đáy mắt ngây thơ
“Trăng tròn ơi xuống đây chơi”
Ngồi dưới gốc bằng lăng chúng ca khe khẽ
Ai hiểu hết nỗi khát thèm của bé?”
Câu 2 (4,0 điểm):
Xã hội hiện đại cần nhiều hơn sự gắn kết nhưng một số bạn trẻ lại đang dần mất đi sự kết nối với cuộc sống xung quanh mình.
Hãy viết bài văn nghị luận khoảng 400 chữ đề xuất giải pháp để tạo nên những kết nối có ý nghĩa tích cực nhằm khắc phục thực trạng trên.
✍️ GỢI Ý ĐÁP ÁN NGẮN GỌN
I. Phần Đọc Hiểu (4 điểm):
Câu 1 (0,5 điểm)
– Thể thơ tự do
– Dấu hiệu: số chữ trong các dòng thơ không đều nhau, nhịp thơ ngắt linh hoạt,…
Câu 2 (0,5 điểm) Hai từ ngữ chỉ thiên nhiên trong khổ đầu: biển, trăng,…
Câu 3 (1 điểm)
– Biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong hình ảnh: “gương mặt dịu lành”.
– Tác dụng:
+ Làm cho hình ảnh trăng trở nên gần gũi, sinh động, có tâm hồn như một con người.
+ Thể hiện vẻ đẹp hiền hòa, thân thiện của ánh trăng đối với những đứa trẻ nơi rừng núi.
+ Qua đó bộc lộ tình yêu thiên nhiên.
Câu 5 (1 điểm)
Học sinh nêu lựa chọn cá nhân và có lý giải phù hợp.
Gợi ý: Lựa chọn dấn thân để khám phá những chân trời mới. Bởi vì mỗi trải nghiệm mới đều giúp con người mở rộng hiểu biết, học hỏi thêm nhiều điều bổ ích và trưởng thành hơn. Nếu chỉ bằng lòng với cuộc sống hiện tại, chúng ta có thể bỏ lỡ nhiều cơ hội để phát triển bản thân. Tuy nhiên, việc khám phá cần đi đôi với sự chuẩn bị và trách nhiệm. Khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, con người sẽ tích lũy được kinh nghiệm quý giá và làm cho cuộc sống trở nên phong phú, ý nghĩa hơn.
II. Phần Viết (6 điểm)
Câu 1
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân đoạn: – Những đứa trẻ gắn bó với thiên nhiên núi rừng: “Ở rừng”, “đón trăng rằm qua kẽ lá”: Không gian thiên nhiên trong trẻo, bình yên, gần gũi, nhưng cuộc sống khó khăn, trẻ em chịu nhiều thiệt thòi.
– Những đứa trẻ mang vẻ đẹp hồn nhiên, ngây thơ, giàu trí tưởng tượng:
+ Đôi mắt trong trẻo, đầy niềm vui và sự háo hức trước vẻ đẹp thiên nhiên: “Những vệt ngời nho nhỏ”, “đôi mắt ngây thơ”
+ “Trăng tròn ơi xuống đây chơi”: nhân hóa vầng trăng như người bạn thân thiết thể hiện sự hồn nhiên, tâm hồn giàu trí tưởng tượng của trẻ thơ.
– Khát vọng khám phá thế giới: “Ai hiểu hết nỗi khát thèm của bé?”, cho thấy khát khao được vui chơi, học hỏi, khám phá, được trải nghiệm thế giới.
– Nghệ thuật: + Thể thơ tự do, ngắt nhịp linh hoạt. + Hình ảnh thơ giàu ý nghĩa. + Sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ: nhân hóa, câu hỏi tu từ …
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Câu 2
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận II.
2. Thân bài:
– Giải thích: Kết nối là những mối quan hệ mang lại sự thấu hiểu, chia sẻ, hỗ trợ và giúp con người phát triển tốt hơn.
Mất kết nối là tình trạng sống khép kín, thờ ơ với mọi người và môi trường xung quanh. Nhiều bạn trẻ lại đang dần xa rời các mối quan hệ thực tế, thiếu sự gắn kết với gia đình, bạn bè và cộng đồng.
– Thực trạng và nguyên nhân
Người trẻ ngày nay dành quá nhiều thời gian cho mạng xã hội, ngại giao tiếp trực tiếp. Từ đó khiến các em thiếu sự quan tâm tới gia đình và cộng đồng, sống trong “thế giới riêng”.
Nguyên nhân xuất phát từ sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, áp lực học tập, công việc. Người trẻ thiếu kỹ năng giao tiếp và chia sẻ cảm xúc, …
– Giải pháp:
Bản thân mỗi người cần:
+ Chủ động trò chuyện, lắng nghe và chia sẻ với người khác.
+ Hạn chế phụ thuộc vào điện thoại, mạng xã hội.
+ Rèn luyện kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm.
+ Dành thời gian cho gia đình mỗi ngày.
Về phía nhà trường cần tổ chức các hoạt động trải nghiệm, ngoại khóa, khuyến khích học sinh tham gia câu lạc bộ, hoạt động tập thể. Bên cạnh đó, giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp.
Trong gia đình, bố mẹ quan tâm, lắng nghe con cái, tạo không khí gắn kết giữa các thành viên. Dành thời gian sinh hoạt chung.
Xã hội tăng cường các hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, xây dựng môi trường sống tích cực, nhân văn nhằm lan tỏa những giá trị tốt đẹp. Đoạn này, học sinh cần lấy dẫn chứng phù hợp.
– Mở rộng vấn đề:
+ Phê phán những người sống thờ ơ, vô cảm, chỉ quan tâm đến bản thân.
+ Khẳng định kết nối không chỉ là số lượng bạn bè mà quan trọng là sự chân thành và giá trị của các mối quan hệ.
Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận.