Chi phí mổ đứt dây chằng chéo sau từ 30 triệu đến 60 triệu đồng tùy vào bệnh viện, dịch vụ và lựa chọn kỹ thuật mổ. Bảo hiểm y tế trong trường hợp trái tuyến chỉ được tính khoảng 40%.

Khớp gối là loại khớp phức tạp, hoạt động nhờ sự phối hợp của nhiều cấu trúc. Trong đó, dây chằng là một dải ngắn gồm các mô liên kết sợi cứng, có nhiệm vụ nối các xương trong và quanh khớp. Điều này làm cho dây chằng có vai trò quan trọng trong sự vận động và giữ vững khớp gối. Chấn thương dây chằng khớp bao gồm các tình trạng đứt, rách dây chằng quanh khớp gối; như dây chằng chéo trước, dây chằng chéo sau hay dây chằng bên…

Chấn thương dây chằng sẽ gây ra tình trạng lỏng lẻo khớp gối. Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, khớp gối sẽ bị thoái hóa. Bên cạnh đó, sự tổn thương của các cấu trúc trong khớp như sụn chêm, sụn khớp, xương dưới sụn… cũng sẽ gây đau đớn và khó khăn trong vận động.

Với người chơi thể thao chuyên nghiệp như các cầu thủ, chấn thương đứt dây chằng đầu gối có thể là dấu chấm hết cho sự nghiệp của họ trên sân cỏ. Một số trường hợp bị tổn thương dây chằng vẫn có thể đi lại bình thường sau chấn thương, nhưng khi vận động mạnh thì khớp gối lại sưng đau. Và nếu không được điều trị, điều này sẽ dẫn đến tình trạng teo cơ đùi. Nguy hiểm hơn, khi khớp gối đã bị thoái hóa nặng thì không thể phẫu thuật tái tạo dây chằng; mà bắt buộc phải phẫu thuật thay khớp gối nhân tạo.

Dây chằng chéo sau

Dây chằng chéo sau nằm ở trung tâm khớp gối, có chức năng chính là chống sự di lệch ra sau của mâm chày và lồi cầu đùi, đặc biệt khi gối gấp 90 độ, phối hợp với các dây chằng khác của khớp gối giữ vững khớp.

Cơ chế chấn thương chủ yếu của dây chằng chéo sau thường do lực tác động mạnh vào mặt trước đầu trên của cẳng chân.

Tổn thương dây chằng chéo sau nếu không điều trị kịp thời, đúng phương pháp có thể dẫn đến biến chứng hạn chế chức năng, thoái hóa khớp gối.

Triệu chứng đứt dây chằng chéo sau:

– Cảm nhận thấy khớp gối không vững, đặc biệt khi lên xuống cầu thang, làm cho bệnh nhân không thể tham gia các hoạt động mạnh (chạy, nhảy, chơi thể thao…).

– Quan sát thấy đùi bên chân bệnh teo hơn so với bên lành, nhìn đầu trên của cẳng chân bịt “tụt” ra sau. Nếu tổn thương kéo dài bệnh nhân có thể thấy các triệu chứng như đau và nề khớp gối, đó là hậu quả do thoái hóa khớp.

Đứt dây chằng chéo sau khám thế nào?

– Các bác sỹ sẽ dùng nhiều phương pháp thăm khám để chẩn đoán xác định tổn thương dây chằng chéo sau, trong đó có hai nghiệm pháp quan trọng: Quan sát thấy mâm chày tụt ra sau so với lồi cầu đùi (nghiệm pháp Godfrey). Nghiệm pháp ngăn kéo sau dương tính.

– Chụp X-quang khớp gối có lực đẩy ra sau ở đầu trên cẳng chân: sẽ quan sát thấy mâm chày ra sau so với lồi cầu đùi.

– Chụp cộng hưởng từ: sẽ thấy đứt đoạn hoặc mất tín hiệu của dây chằng chéo sau.

Đứt dây chằng chéo sau có phải mổ?

Không phải tất cả những bệnh nhân bị tổn thương dây chằng chéo sau đều phải mổ. Chỉ định phẫu thuật cho những trường hợp sau:

– Bệnh nhân đứt dây chằng chéo sau độ II, III có biểu hiện lỏng, đau hoặc nề khớp gối.

– Tuổi thông thường từ 18-50 tuổi.

– Không có biến chứng thoái hóa khớp nặng, không hạn chế gấp duỗi gối, không nhiễm khuẩn khớp.

Mổ đứt dây chằng chéo sau như thế nào?

Phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo sau khớp gối được tiến hành hoàn toàn qua nội soi. Thời gian cuộc mổ đứt dây chằng chéo sau kéo dài khoảng 60-90 phút.

Dây chằng bị đứt có thể được thay thế bằng chính gân lấy từ bệnh nhân (gọi là gân tự thân), thông thường là gân Hamstring. Việc lấy gân hầu như không ảnh hưởng đến chức năng khớp gối của bệnh nhân.

Ngoài ra, bác sĩ có thể sử dụng gân đồng loại (gân của người khác, đã được xử lý, bảo quản đông lạnh). Gân đồng loại có giá trị như gân tự thân, nhưng nguồn cung cấp hạn chế và giá thành cao.

Chăm sóc sau mổ đứt dây chằng chéo sau

Thông thường bệnh nhân nằm viện khoảng 3-5 ngày.

Sau mổ bệnh nhân có thể gặp một số triệu chứng sau:

– Nề (sưng) khớp gối: thông thường, hầu như tất cả các bệnh nhân đều sưng khớp gối ở các mức độ khác nhau, sưng nhiều nhất trong tuần đầu sau mổ, đa số triệu chứng này sẽ giảm dần và hết sau 4-6 tuần, có thể một số bệnh nhân còn sưng nhẹ, nhưng không đau, nhức, không ảnh hưởng đến chức năng khớp.

Tuy nhiên, nếu bệnh nhân thấy khớp gối sưng nhiều, căng, nhức, đặc biệt kèm theo sốt, đó là các triệu chứng báo hiệu có thể bị nhiễm khuẩn khớp, bệnh nhân cần thông báo ngay với bác sỹ để có biện pháp điều trị phù hợp.

– Tê bì mặt trước trong cẳng chân, triệu chứng này thường tự hết trong một vài tháng.

– Đau tại khớp gối: thông thường đau nhất vào ngày thứ nhất sau mổ, nhưng sau đó sẽ giảm dần, và chỉ còn đau nhẹ từ ngày thứ 3-thứ 5 sau sau mổ, hết đau sau 1 -2 tuần.

Một số biến chứng có thể gặp phải:

– Nhiễm khuẩn khớp gối: tỷ lệ khoàng 0,5%. Bệnh nhân thấy đau nhức khớp liên tục, khớp nóng, nề, thường kèm theo sốt.

– Nhiễm khuẩn tại vết mổ chỗ lấy gân: thường có biểu hiện tấy đỏ, chảy dịch, có thể bị nhiễm khuẩn sớm ngay trong tuần đầu sau mổ, có thể nhiễm khuẩn muộn sau một vài tháng.

– Hạn chế gấp/duỗi gối, thường do bệnh nhân không tuân thủ tốt quá trình luyện tập.

– Tràn dịch khớp gối ở mức độ khác nhau, chỉ xem xét chọc hút dịch khớp nếu tràn dịch mức độ nhiều, gây căng tức khớp gối, ảnh hưởng đến vận động.

– Teo cơ tứ đầu đùi, thường do luyện tập không đúng qui trình.

– Lỏng khớp gối: có thể bệnh nhân vẫn có cảm giác khớp gối không vững chắc như trước khi chấn thương, tuy nhiên độ vững khớp gối có cải thiện so với trước mổ.

– Thoái hóa khớp: bệnh nhân có biểu hiện đau khớp, đau tăng khi vận động, khi về đêm.

– Đứt lại dây chằng chéo sau, thường do chấn thương.

Nến gặp các biến chứng trên bệnh nhân cần thông báo ngay với bác sỹ để có biện pháp điều trị phù hợp.

Luyện tập sau mổ đứt dây chằng chéo sau

Qui trình luyện tập chia thành 5 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Tập ngay sau mổ cho đến hết 8 tuần

  • Sau mổ bệnh nhân được mang nẹp gối, đi nạng đến 8 tuần.
  • Tỳ nén lên chân bệnh tăng dần, sau 8 tuần có thể tỳ nén hoàn toàn
  • Tập co cơ tĩnh các cơ đùi, cẳng chân, gấp gối thụ động tăng dần

Giai đoạn 2: từ tuần 9 đến tuần 12

  • Bỏ nẹp khóa, thay bằng bao gối.
  • Bỏ nạng, tỳ chân hoàn toàn.
  • Có thể gấp gối tối đa
  • Tiếp tục luyện tập như giai đoạn 1, tập thêm các động tác kiễng gót, khuỵu gối dựa tường, gấp, duỗi gối chủ động

Giai đoạn 3: từ 3 đến 9 tháng

  • Tiếp tục tập như giai đoạn 2, nhưng có tải trọng (đeo bao cát hoặc tạ khoảng 3kg vào cổ chân), hoặc tập với 1 chân bên bệnh
  • Mục đích của giai đoạn này là phục hồi hoàn toàn sức cơ tứ đầu đùi, không còn cảm giác đau, hoặc khó chịu ở khớp gối
  • Có thể tập thêm các động tác như bơi, đạp xe, tập lên xuống cầu thang…

Giai đoạn 4: Từ 9- 12 tháng

  • Tiếp tục các bài tập mềm dẻo và tăng cường sức mạnh
  • Tập các bài hỗ trợ tùy theo mục tiêu cụ thể của bệnh nhân (chơi bóng đá, bóng chuyền,…)
  • Bắt đầu tập các bài tập kỹ năng của môn thể thao

Giai đoạn 5: Bắt đầu sau 12 tháng

  • Quay trở lại hoạt động, chơi thể thao bình thường như trước chấn thương.

Nên mang bó gối trong 02 năm.